Canh tác cà phê thông minh tại Ia Phí: bón ít phân hơn, vườn vẫn sai quả
Ba vườn cà phê ở xã Ia Phí (tỉnh Gia Lai) đạt 4,2–4,4 tấn nhân/ha nhưng phải đổi bằng lượng phân rất lớn trên nền đất chua nặng. Tham gia chương trình Canh tác cà phê thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu của Bình Điền, ba hộ chia đôi vườn để tự so sánh quy trình mới với cách làm cũ. Đến cuối mùa mưa, nửa vườn mô hình bón ít phân hóa học hơn hẳn mà cành mang quả dày, chùm quả đều hơn nửa vườn còn lại.
GIA LAI – Vườn của các hộ Trịnh Xuân Ngọc, Nguyễn Thị Xuân Tươi và Trần Huy Hưng ở thôn 2, thôn 3 xã Ia Phí (huyện Chư Păh cũ) trồng cà phê vối TRS1 tuổi 7–10 năm trên đất đỏ bazan, tưới béc, năng suất ổn định nhiều vụ liền. "Trước giờ chủ yếu chăm theo kinh nghiệm và học hỏi bà con xung quanh. Tham gia mô hình, tôi muốn có thêm kiến thức khoa học để hiểu hơn về cây cà phê", anh Hưng nói.
Năng suất cao nhờ phân nhiều trên nền đất chua
Điều tra đầu vụ của chương trình cho thấy cái giá của năng suất ấy: vườn ông Ngọc mỗi năm nhận 1,2 tấn NPK cộng 850 kg urê và 800 kg kali; vườn chị Tươi 2,4 tấn NPK; vườn anh Hưng 1,65 tấn NPK và 1,5 tấn lân, chia 5–6 đợt, đều vãi trên mặt đất và hầu như không ghi chép. Để biết vì sao bón nhiều mà cây vẫn không khỏe, chương trình gửi mẫu đất của từng vườn phân tích tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI). Kết quả: cả ba vườn đất chua nặng, pHKCl chỉ 3,97–4,1; ở độ chua này lân bị nhôm, sắt cố định thành dạng cây không hút được, nên lân dễ tiêu trong đất rất thấp dù vườn anh Hưng bón tới 1,5 tấn lân mỗi năm; canxi, magiê, kẽm đều ở mức nghèo, khiến rễ tơ kém phát triển, lá quang hợp yếu và đậu quả không đều. Nói cách khác, đất Ia Phí không thiếu phân mà thiếu điều kiện để cây sử dụng phân.
Đoàn chuyên gia và cán bộ kỹ thuật của chương trình thăm vườn mô hình tại thôn 3, xã Ia Phí.
TS. Tôn Nữ Tuấn Nam, Trưởng ban Cố vấn chương trình, kiểm tra chùm quả cùng chủ vườn.
Quy trình canh tác thông minh được xây dựng từ đất
Niên vụ 2025–2026, ba vườn này nằm trong 48 vườn mô hình tại 6 tỉnh của chương trình do Công ty Cổ phần Phân bón Bình Điền chủ trì, phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và WASI; tại Gia Lai có Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây Hồ tiêu cùng Trung tâm Khuyến nông tỉnh theo dõi. Mỗi vườn dành 1 ha chia đôi trên cùng đất, cùng giống, cùng người làm: 0,5 ha theo quy trình chương trình, 0,5 ha chăm như cũ để đối chứng. Từ kết quả phân tích đất, cán bộ kỹ thuật cùng nông dân xây dựng quy trình cho từng vườn với bốn thay đổi.
Thứ nhất, cải tạo đất trước khi nuôi cây. Đầu mùa mưa, phần mô hình được bón 300 kg Đầu Trâu Cân bằng đất và 500–750 kg phân hữu cơ Đầu Trâu Dưỡng Rễ Tốt Cây mỗi hecta. Cân bằng đất cung cấp canxi, magiê, silic và vi lượng dạng dễ tiêu, giúp hạ độ chua, hạn chế độc nhôm và giải phóng dần lượng lân đang bị cố định; hữu cơ bổ sung mùn, làm đất tơi xốp, giữ ẩm, kích thích rễ tơ. Bộ rễ khỏe trên nền đất được cải tạo là điều kiện để các đợt phân sau được hấp thu thay vì thất thoát.
Thứ hai, bón phân theo giai đoạn sinh trưởng bằng bộ phân Đầu Trâu chuyên dùng cho cà phê, thay cho NPK cộng phân đơn: mùa khô bón Đầu Trâu Mùa Khô để cây phục hồi sau thu hoạch, nuôi hoa và đậu quả; đầu mùa mưa bón Đầu Trâu Tăng Trưởng cân đối để ra cành dự trữ và nuôi quả non; giữa và cuối mùa mưa chuyển sang Đầu Trâu Chắc Hạt với kali cao để quả tích lũy chất khô, nhân chắc, cuống dai. Tổng lượng phân hóa học khoảng 1,0–1,1 tấn/ha so với 2,4–2,9 tấn trước đây, nhưng đúng loại, đúng lúc nên cây sử dụng hiệu quả hơn.
Thứ ba, bổ sung dinh dưỡng qua lá có chủ đích: một đợt phân bón lá hữu cơ kết hợp vi lượng ở giai đoạn quả non để bù nhanh kẽm, bo và hạn chế rụng quả sinh lý, thay cho nhiều đợt phun "cho chắc". Thứ tư, quản lý dịch hại và ghi chép: rệp sáp được xử lý ngay khi mới xuất hiện bằng thuốc sinh học, đúng đối tượng; mỗi đợt bón, đợt phun, công lao động đều ghi nhật ký đồng ruộng để cuối vụ hạch toán giá thành mỗi kg cà phê nhân.
Phần vườn mô hình: cành mang quả dày, chùm quả phát triển đồng đều.
Phần vườn đối chứng trên cùng lô đất: mật độ quả thưa hơn, kích thước quả không đều.
Hai nửa vườn, hai kết quả
Cuối mùa mưa, báo cáo theo dõi cụm Ia Phí ghi nhận cùng một bức tranh ở cả ba vườn. Phần mô hình có cành mang quả với mật độ quả rất dày, chùm quả kích thước đồng đều, bộ lá xanh đậm, cành dự trữ vươn dài, chưa ghi nhận sâu bệnh đáng kể. Phần đối chứng mật độ quả thưa hơn, kích thước quả trong cùng một cành không đều, có sự phân hóa rõ giữa các chùm; vườn chị Tươi phần đối chứng vẫn phải phun nhiều đợt phân bón lá và thuốc nấm để giữ cây.
"Nhờ bón Dưỡng rễ và Cân bằng đất kịp thời, đến đợt bón nuôi quả thì rễ tơ hút dinh dưỡng rất mạnh. Chùm quả sạch bóng, hạt lớn, dàn cành dự trữ vươn dài cho vụ tới", anh Hưng cho biết. Với chị Tươi, khác biệt nằm ở công lao động: "Bón cân đối theo nhu cầu cây, cây khỏe tự nhiên, không phải vất vả phun xịt nhiều đợt như bên đối chứng".
Chùm quả trên phần vườn mô hình: quả đóng dày, tròn đều, cuống bám chắc.
Ban cố vấn thăm vườn mô hình giai đoạn tích lũy nhân, chuẩn bị vào vụ thu hoạch.
Bình Điền đồng hành cùng người trồng cà phê
Ia Phí cho thấy ngay cả vườn năng suất cao, chủ vườn giàu kinh nghiệm vẫn có thể làm tốt hơn khi được tiếp cận giải pháp canh tác phù hợp với đất của mình. Đó là cách chương trình Canh tác cà phê thông minh của Bình Điền đang triển khai trên 48 vườn ở 6 tỉnh: phân tích đất, xây dựng quy trình cho từng vườn, đưa bộ phân Đầu Trâu chuyên dùng vào đúng giai đoạn, cán bộ kỹ thuật và nhà khoa học đồng hành suốt vụ, để nông dân tự so sánh và tự tin với cách làm mới. Với vùng đang giữ năng suất bằng lượng phân rất lớn, thay đổi lớn nhất là giảm phân mà năng suất không giảm, bớt phun xịt và chi phí mỗi kg cà phê thấp hơn.
Khi vườn đạt khoảng một nửa quả chín, chương trình sẽ tổ chức hội thảo tổng kết ngay tại Ia Phí, cân đo năng suất và hạch toán chi phí hai nửa vườn để bà con trong xã cùng đánh giá. Từ ba hộ đầu tiên, Bình Điền cùng hệ thống khuyến nông Gia Lai hướng tới nhân rộng quy trình canh tác cà phê thông minh cho vùng cà phê Ia Phí và các xã lân cận.
Hồ Huy – Khánh Duy















